Thực tiễn sử dụng báo cáo quản trị hiện nay

Ngoài những báo cáo quen thuộc như báo cáo tài chính (BCTC), báo cáo thường niên (BCTN), hiện nay doanh nghiệp còn phải công bố báo cáo quản trị BCQT, nhưng để “thấy” được báo cáo quản trị không phải dễ. Những cổng thông tin liên quan đến chứng khoán cũng không sắp xếp, đăng tải báo cáo quản trị rõ ràng.

Trong khi đó, các doanh nghiệp cũng không “buồn” công bố báo cáo quản trị của mình trên website, ngay cả những doanh nghiệp có tiếng là minh bạch. Nội dung của báo cáo quản trị bao gồm các hoạt động của HĐQT trong khoảng thời gian (quý, năm), nghị quyết, thay đổi nhân sự và các giao dịch CP của các cổ đông lớn và các vấn đề khác.

Thực tế, những nội dung trên đã được doanh nghiệp công bố rải rác mỗi khi xuất hiện, nên báo cáo quản trị có thể xem như một sự tổng hợp lại. Đối với những cổ đông, người đầu tư thường xuyên theo dõi một doanh nghiệp nào đó, báo cáo quản trị có thể không quá quan trọng.

Nhưng đối với những người mới tiếp cận, báo cáo quản trịsẽ khái quát tình hình của doanh nghiệp dễ dàng hơn. Về sức nặng, có thể báo cáo quản trị không bằng BCTC, BCTN nhưng với cái tên khá rộng của mình, chức năng của báo cáo quản trịcó thể “mở” hơn.

Bởi công tác quản trị vốn dĩ rất rộng, liên quan đến việc tổ chức, điều hành, chiến lược với các vấn đề về tài chính, nhân sự… Vì thế, việc lập ra báo cáo quản trị để người đầu tư có thêm một kênh thông tin là rất cần thiết, nhưng thực tế báo cáo quản trị hiện nay vẫn chưa xứng với cái tên của mình.

Nếu khai thác tốt những cái “nền” sẵn có trong báo cáo quản trị, lợi ích người đầu tư được hưởng rất lớn. Thí dụ, trong phần báo cáo hoạt động của hội đồng quản trị có các cuộc họp, hiện tại mới chỉ thông báo  về mặt số lượng, như bao nhiêu thành viên dự họp, có đầy đủ hay không…

Tại sao không quy định thêm việc công bố nội dung chính của những cuộc họp này là gì để nhà đầu tư có thể theo dõi sát hoạt động của hội đồng quản trị. Đây là một vấn đề quan trọng, bởi lẽ vài năm gần đây hiệu quả hoạt động của hội đồng quản trị được nhắc lại nhiều lần.

Một mục khác là hoạt động giám sát của hội đồng quản trị đối với ban giám đốc, cũng có thể giúp các cổ đông theo sát tình hình hoạt động cụ thể của doanh nghiệp, rất hữu ích, nhưng không phải báo cáo quản trị nào cũng có.

Trong báo cáo quản trị của Hodeco (HDC) có nêu việc hội đồng quản trị cùng ban giám đốc tiến hành 3 buổi họp chung nhằm đánh giá, nhận xét tình hình sản xuất kinh doanh, chỉ đạo việc phát hành 200 tỷ đồng trái phiếu…

Trong khi đó, báo cáo quản trị của Vinaconex 21 (V21) chỉ vỏn vẹn 1 trang giấy, chủ yếu nói tốt mà không thấy nêu cụ thể về hoạt động của HĐQT như trường hợp của Hodeco.

Một vấn đề khác cũng cần được lưu ý là giao dịch CP của các thành viên hội đồng quản trị, các thành viên luôn là một phần mà khi cần, việc thống kê rất mất thời gian và chưa chắc đã chính xác. Vì vậy, việc nêu rõ tỷ lệ sở hữu của các cổ đông lớn, cổ đông nội bộ trong báo cáo quản trị vừa công khai minh bạch cũng vừa đem lại lợi ích cho nhà

đầu tư.

Một câu hỏi cần đặt ra cho các cơ quan quản lý là mục tiêu trong việc yêu cầu doanh nghiệp phải lập báo cáo quản trị là gì? Chế tài nếu không công bố báo cáo quản trị sẽ ra sao và có bắt buộc phải công bố ra đại chúng hay không?

Như đã nói ở trên, nếu khai thác tốt những chức năng sẵn có, báo cáo quản trị sẽ phát huy nhiều hiệu quả, bởi lẽ đã đến lúc người đầu tư phải biết mình đang đầu tư vào đâu, đưa tiền cho ai và tiền của mình có sử dụng đúng hay không.

Thiết nghĩ các cơ quan quản lý cần chuẩn hóa nội dung của báo cáo quản trị, đồng thời mạnh tay trong các chế tài khi doanh nghiệp không hoặc chậm công bốbáo cáo quản trị.

 Sưu tầm

Bài viết liên quan